• Trang chủ
    • giới thiệu chung
    • quy chế hoạt động
    • Liên hệ BBT
  • TIN TỨC
  • HOẠT ĐỘNG PBGDPL
    • HOẠT ĐỘNG PBGDPL TRUNG ƯƠNG
    • HOẠT ĐỘNG PBGDPL ĐỊA PHƯƠNG
  • HỎI ĐÁP, TƯ VẤN
    • TƯ VẤN PHÁP LUẬT
    • ĐỐI THOẠI CHÍNH SÁCH - PHÁP LUẬT
  • hội đồng phối hợp PBGDPL
    • HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP PBGDPL TỈNH
    • HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP PBGDPL HUYỆN/ THÀNH PHỐ
  • báo cáo viên pl
    • BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT CẤP TỈNH
    • BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT CẤP HUYỆN
    • TUYÊN TRUYỀN VIÊN PHÁP LUẬT
  • TÀI LIỆU PBGDPL
    • TÀI LIỆU GIỚI THIỆU VBQPPL TW
    • TÀI LIỆU GIỚI THIỆU VBQPPL TỈNH
    • TỜ GẤP
    • SÁCH, HỎI - ĐÁP PL
    • CÂU CHUYỆN, TIỂU PHẨM, TÌNH HUỐNG PL
    • PANO, ÁP PHÍCH, FILE ÂM THANH
  • Đăng nhập
  • Trang chủ
  • TÀI LIỆU PBGDPL
  • TIỂU PHẨM, TÌNH HUỐNG PL
Thứ Ba, ngày 14 tháng 7 năm 2026

Tình huống tuyên truyền pháp luật về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em

Thứ Ba, 09/06/2026 - 21:00 - Lượt xem: 22

Tình huống 1: Tội tráo người, chiếm đoạt người.

Chị H sinh đôi hai bé trai tại Bệnh viện X. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi sinh được 03 tháng, chị H thường xuyên gửi một trong hai cháu cho bà M (là người quen) chăm sóc giúp.

Trong quá trình chăm sóc cháu bé, bà M nảy sinh ý định chiếm đoạt đứa trẻ để giao cho một cặp vợ chồng hiếm muộn ở địa phương khác nuôi dưỡng nhằm nhận số tiền 100 triệu đồng. Để thực hiện ý định, bà M đã bí mật đưa cháu bé đến địa phương khác.

Lo sợ gia đình cháu phát hiện, bà M đã tìm một trẻ sơ sinh khác có ngoại hình tương đối giống cháu bé rồi đưa về giao cho chị H, nói rằng đây chính là con của chị. Do cháu còn quá nhỏ nên gia đình không phát hiện sự việc.

Khoảng hai tháng sau, chị H nhận thấy nhiều đặc điểm của cháu không giống con mình nên tiến hành xét nghiệm ADN. Kết quả cho thấy đứa trẻ đang được chị nuôi dưỡng không phải là con ruột của mình. Cơ quan điều tra vào cuộc và xác định bà M đã đưa con ruột của chị H cho người khác nuôi để nhận tiền, đồng thời dùng một trẻ sơ sinh khác thay thế nhằm che giấu hành vi.

Hỏi: Hành vi của bà M có dấu hiệu của tội phạm nào?

Trả lời:

1.  Thứ nhất: Bà M đã đưa một trẻ sơ sinh khác về giao cho chị H thay thế con ruột của chị nhằm che giấu việc đưa cháu bé đi nơi khác. Người phạm tội đã cố ý thay đổi nhân thân của trẻ dưới 01 tuổi bằng cách tráo đổi một trẻ khác với con ruột của chị H, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền được nhận cha, mẹ, gia đình của trẻ em. Hành vi này có dấu hiệu cấu thành Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi theo Điều 152 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 12/2017/QH14):

“Điều 152. Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

1. Người nào đánh tráo người dưới 01 tuổi thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Thứ hai: Bà M lợi dụng việc được gia đình tin tưởng giao chăm sóc cháu bé để bí mật đưa cháu đi giao cho người khác nuôi dưỡng nhằm nhận 100 triệu đồng. Hành vi này có dấu hiệu của Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 Bộ luật Hình sự:

“Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ)Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Đứa trẻ mới 03 tháng tuổi nên thuộc đối tượng "người dưới 16 tuổi" được Điều 153 bảo vệ. Việc đưa cháu bé ra khỏi sự quản lý hợp pháp của cha mẹ nhằm chiếm giữ và chuyển giao cho người khác là hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

Tình huống 2: Hành vi vi phạm về trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

Công ty A là đơn vị quản lý và vận hành một nền tảng chia sẻ video trực tuyến. Trên nền tảng này xuất hiện nhiều video có nội dung bạo lực học đường, trong đó có các cảnh đánh nhau giữa học sinh, lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của trẻ em và các bình luận mang tính kích động, cổ súy bạo lực.

Mặc dù đã nhận được phản ánh từ phụ huynh, giáo viên và cơ quan chức năng về các video nêu trên, Công ty A không thực hiện việc cảnh báo người sử dụng, đồng thời cũng không gỡ bỏ các nội dung gây hại đối với trẻ em. Các video tiếp tục được lan truyền rộng rãi trên nền tảng, thu hút nhiều lượt xem và chia sẻ.

Qua kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền xác định Công ty A đã không thực hiện trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Công ty A đã vi phạm quy định nào và mức xử phạt ra sao?

Trả lời:

1. Công ty A đã vi phạm quy định về trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, cụ thể là hành vi không thực hiện cảnh báo hoặc không gỡ bỏ thông tin, dịch vụ gây hại cho trẻ em trên môi trường mạng mặc dù đã nhận được phản ánh và có đủ điều kiện để xử lý.

Hành vi này thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Nghị định 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em.

2. Theo khoản 1 Điều 37 Nghị định 98/2026/NĐ-CP mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Do Công ty A là tổ chức, mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân, tương ứng từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Căn cứ tính chất, mức độ vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định mức phạt cụ thể trong khung này.

Tình huống 3: Vi phạm quy định về không bảo đảm an toàn dẫn đến tai nạn, thương tích cho trẻ em

Thôn Tân Lập, xã X có một công trình xây dựng nhà văn hóa đang thi công. Đơn vị thi công là Công ty TNHH Minh Phát. Trong quá trình thi công, tại khu vực công trình có một hố sâu khoảng 2 mét được đào để lắp đặt hệ thống thoát nước. Tuy nhiên, Công ty Minh Phát không thực hiện việc rào chắn, cắm biển cảnh báo nguy hiểm hoặc có biện pháp che đậy bảo đảm an toàn theo quy định.

Khu vực công trình nằm gần khu dân cư, nơi thường xuyên có trẻ em vui chơi. Vào một buổi chiều, cháu Nguyễn Văn A (10 tuổi) cùng một số bạn trong thôn đến khu vực công trình chơi đùa. Do không nhận biết được mức độ nguy hiểm, cháu A đã bị ngã xuống hố sâu, dẫn đến gãy chân phải và phải điều trị tại bệnh viện trong thời gian dài.

Sau khi tiếp nhận thông tin, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và xác định Công ty TNHH Minh Phát đã không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cần thiết tại khu vực có nguy cơ gây tai nạn cho trẻ em, dẫn đến việc trẻ em bị thương tích.

Hỏi:

1. Trong tình huống trên, Công ty TNHH Minh Phát đã có hành vi vi phạm gì?

2. Hành vi của Công ty TNHH Minh Phát sẽ bị xử phạt bao nhiêu?

3. Ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, Công ty TNHH Minh Phát còn phải thực hiện những trách nhiệm nào khác đối với cháu A?

Trả lời:

1. Công ty TNHH Minh Phát đã có hành vi không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn tại khu vực có nguy cơ gây tai nạn cho trẻ em, cụ thể là không rào chắn, không che đậy hố sâu và không đặt biển cảnh báo nguy hiểm tại công trình đang thi công.

Đây là hành vi vi phạm quy định về bảo đảm môi trường sống an toàn cho trẻ em, làm phát sinh nguy cơ tai nạn đối với trẻ em trong cộng đồng.

2. Trong vụ việc này, do việc không thực hiện các biện pháp an toàn đã trực tiếp dẫn đến việc cháu A bị ngã xuống hố công trình và bị gãy chân nên hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả là thương tích đối với trẻ em. Do vậy, hành vi của Công ty TNHH Minh Phát thuộc trường hợp vi phạm quy định về không bảo đảm an toàn dẫn đến tai nạn, thương tích cho trẻ em theo Điều 36 Nghị định 98/2026/NĐ-CP mức xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Do Công ty TNHH Minh Phát là tổ chức, mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân, tương ứng từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

3. Ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định 98/2026/NĐ-CP Công ty TNHH Minh Phát còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định 98/2026/NĐ-CP như: lắp đặt biển cảnh báo, rào chắn khu vực nguy hiểm, che đậy hố sâu hoặc loại bỏ các nguy cơ gây tai nạn; thanh toán các khoản chi phí cho việc cứu chữa, điều trị và phục hồi sức khỏe của cháu A.

Tin bài cùng chuyên mục
  • 05 Tình huống tuyên truyền pháp luật về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em - Ngày đăng: 23/06/2026
  • 05 Tình huống tuyên truyền pháp luật về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em - Ngày đăng: 10/06/2026
  • Tình huống tuyên truyền pháp luật về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em - Ngày đăng: 09/06/2026
  • 35 TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VÀ LAO ĐỘNG - Ngày đăng: 30/12/2025
  • 27 TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ CHUẨN TIẾP CẬN PHÁP LUẬT - Ngày đăng: 30/12/2025
  • 10 tình huống pháp luật về đất đai - Ngày đăng: 26/11/2025
  • 05 tình huống pháp luật về chính sách bố trí dân cư các vùng: thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, di cư tự do, khu rừng đặc dụng - Ngày đăng: 26/11/2025
  • 10 tình huống pháp luật về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo - Ngày đăng: 26/11/2025
  • 10 tình huống pháp luật về bảo vệ môi trường - Ngày đăng: 26/11/2025
  • 20 tình huống pháp luật về hôn nhân và gia đình; Phòng, chống bạo lực gia đình - Ngày đăng: 02/12/2024
  • Tổng số: 73 | Trang: 1 trên tổng số 8 trang  
Xem tin theo ngày:   / /   
HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ
thống kê, báo cáo về pbgdpl
  • Báo cáo số 1165/BC-HĐPH ngày 09/11/2023 của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện Chiêm Hóa
  • Báo cáo số 45/BC-BTP ngày 15/02/2023 của Bộ Tư pháp
  • Báo cáo số 22/BC-BTP ngày 08/02/2022 của Bộ Tư pháp
  • Báo cáo số 158/BC-STP ngày 30/7/2021 của Sở Tư pháp
  • Báo cáo số 163/BC-STP ngày 03/8/2021 của Sở Tư pháp
Thư viện Video - Clip
Hướng dẫn đăng tải tin bài và văn bản lên Trang TTĐT PBGDPL Tuyên Quang
  • Tọa đàm: Để pháp luật đi vào cuộc sống
  • UBND tỉnh họp phiên thường kỳ tháng 4
  • Phấn đấu chỉ số PCI của tỉnh trong top 30 tỉnh, thành phố cả nước
  • Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc lần thứ VI
  • Đoàn công tác của UBKT Trung ương thăm làm việc tại tỉnh
LIÊN KẾT
Thống kê truy cập

Đang Online: 41

Tổng lượng truy cập: website counter

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH TUYÊN QUANG

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Cơ quan thường trực: Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang

Trưởng Ban Biên tập: Bà Nguyễn Thị Thược, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh

Địa chỉ: Đường 17/8, Phường Phan Thiết, tp Tuyên Quang - Điện thoại: (0207) 3.822.831 - FAX: (0207) 3.922.187 - Email: banbientapstptq@gmail.com

Giấy phép xuất bản số 21/GP-TTĐT ngày 25 tháng 05 năm 2021 của Sở Thông tin & Truyền thông tỉnh Tuyên Quang

​