Ngày 09/4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Trẻ em số 102/2016/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2017; được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch số 28/2018/QH14; Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 81/2025/QH15 (sau đây gọi chung là Luật Trẻ em)
Tình huống 01: Cấp độ bảo vệ trẻ em và các biện pháp bảo vệ trẻ em ở cấp độ phòng ngừa
Vừa qua, trên mạng xã hội và báo chí phản ánh nhiều thông tin về việc trẻ em bị xâm hại bằng nhiều hình thức khác nhau như: Đánh đập, bỏ mặc, xâm phạm tình dục, thậm chí có trường hợp dẫn đến tử vong... là mẹ có con gái 08 tuổi, chị Giang hết sức lo lắng về việc làm sao để bảo vệ con gái khỏi những mối nguy hại trên. Chị muốn biết, theo Luật hiện nay có mấy cấp độ bảo vệ trẻ em? Có những biện pháp nào để bảo vệ trẻ em ở cấp độ phòng ngừa?
Trả lời:
- Khoản 1 Điều 47 Luật Trẻ em quy định việc bảo vệ trẻ em được thực hiện theo 03 (ba) cấp độ theo hướng tăng dần sau đây:
(1) Phòng ngừa;
(2) Hỗ trợ;
(3) Can thiệp.
- Khoản 2 Điều 48 Luật Trẻ em quy định về 05 nhóm biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ phòng ngừa bao gồm:
+ Tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng, gia đình, trẻ em về mối nguy hiểm và hậu quả của các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; về trách nhiệm phát hiện, thông báo trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi;
+ Cung cấp thông tin, trang bị kiến thức cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em về trách nhiệm bảo vệ trẻ em, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em;
+ Trang bị kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ để bảo đảm trẻ em được an toàn;
+ Giáo dục, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em;
+ Xây dựng môi trường sống an toàn và phù hợp với trẻ em.
Căn cứ các quy định trên, chị Giang cần tuyên truyền cho con gái mình về nhận biết các hành vi xâm hại trẻ em, mối nguy hiểm, hậu quả của hành vi xâm hại nhằm nâng cao nhận thức, trang bị cho con những kiến thức cơ bản nhất để phòng ngừa và giảm nguy cơ trẻ bị xâm hại.
Tình huống 02: Điều kiện chăm sóc thay thế
Cháu Na thường trú tại xã Yên Nguyên có hoàn cảnh rất éo le, bố mất vì tai nạn, mẹ lại bệnh nặng, không thể lao động để nuôi Na ăn học, họ hàng, người thân của cháu đều rất khó khăn. Chị Quỳnh là người xã Chiêm Hóa trong một lần đi chơi tình cờ biết tin về hoàn cảnh cháu Na nên muốn nhận cháu về để chăm sóc thay thế, tuy nhiên chị không biết, mình cần đáp ứng các điều kiện gì để có thể nhận cháu Na về chăm sóc thay thế. Hỏi, việc chăm sóc thay thế trẻ em phải đáp ứng các điều kiện gì?
Điều 63 Luật Trẻ em quy định về điều kiện chăm sóc thay thế, như sau:
“1. Việc quyết định giao chăm sóc thay thế phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại Điều 60 của Luật này và đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật này;
b) Việc cho, nhận chăm sóc thay thế đối với trẻ em còn cả cha và mẹ hoặc chỉ còn cha hoặc mẹ nhưng không có khả năng bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha và mẹ, cha hoặc mẹ, trừ trường hợp trẻ em được áp dụng biện pháp can thiệp bảo vệ trẻ em theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 50, khoản 3 Điều 52 của Luật này hoặc khi cha, mẹ bị hạn chế quyền của cha, mẹ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
2. Cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Cá nhân, người đại diện gia đình là người cư trú tại Việt Nam; có sức khỏe và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có tư cách đạo đức tốt; không bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính về các hành vi xâm hại trẻ em; không bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật, mua, bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em;
b) Có chỗ ở và điều kiện kinh tế phù hợp, bảo đảm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em;
c) Tự nguyện nhận chăm sóc trẻ em; có sự đồng thuận giữa các thành viên trong gia đình về việc nhận chăm sóc trẻ em; các thành viên trong gia đình không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính về các hành vi xâm hại trẻ em;
d) Người thân thích nhận trẻ em chăm sóc thay thế phải là người thành niên; các trường hợp khác phải hơn trẻ em từ 20 tuổi trở lên.
3. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân hỗ trợ về tinh thần và vật chất để trợ giúp chăm sóc thay thế cho trẻ em.
Như vậy, nếu chị Quỳnh bảo đảm các điều kiện nêu trên thì có thể nhận cháu Na về để chăm sóc thay thế cháu Na.
Tình huống 03: Trách nhiệm và quyền của người nhận chăm sóc thay thế
Cháu Minh (12 tuổi) bị mồ côi cha, mẹ, chị My là Bác họ của cháu Minh có nhận Minh về để chăm sóc thay thế. Chị muốn biết, pháp luật hiện nay quy định người nhận chăm sóc thay thế có quyền và trách nhiệm gì để thực hiện đúng theo quy định của pháp luật?
Điều 64 Luật Trẻ em quy định người nhận chăm sóc thay thế có trách nhiệm và quyền, như sau:
1. Về trách nhiệm
- Bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống an toàn, thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em phù hợp với điều kiện của người nhận chăm sóc thay thế;
- Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về tình hình sức khỏe thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của trẻ em sau 06 tháng kể từ ngày nhận chăm sóc thay thế và hằng năm; trường hợp có vấn đề đột xuất, phát sinh thì phải thông báo kịp thời.
2. Về quyền
- Được ưu tiên vay vốn, dạy nghề, hỗ trợ tìm việc làm để ổn định cuộc sống, chăm sóc sức khỏe khi gặp khó khăn;
- Được hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo quy định của pháp luật và được nhận hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để thực hiện việc chăm sóc thay thế.
Như vậy, chị My có trách nhiệm và quyền như đã nêu ở trên.
Tình huống 04: Trường hợp chấm dứt việc chăm sóc thay thế
Hai năm trước, gia đình chị Oanh nhận chăm sóc bé Gạo do hoàn cảnh đặc biệt của bé. Hiện nay, chị Hường (là mẹ đẻ) của cháu đã trở về và có điều kiện chăm sóc cháu tốt hơn gia đình chị Oanh. Cả chị Hường và chị Oanh đều muốn cháu Gạo về ở với mẹ để được chăm sóc tốt hơn. Hỏi, trong trường hợp này, chị Oanh có thể giao bé Gạo cho chị Hường chăm sóc và chấm dứt việc chăm sóc thay thế đối với bé Gạo chưa?
- Khoản 1 Điều 69 Luật trẻ em quy định việc chăm sóc thay thế chấm dứt trong trường hợp sau:
“Điều 69. Chấm dứt việc chăm sóc thay thế
1. Việc chăm sóc thay thế chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế không còn đủ điều kiện chăm sóc trẻ em theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Luật này;
b) Cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này gây tổn hại cho trẻ em được nhận chăm sóc thay thế;
c) Cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế đề nghị chấm dứt việc chăm sóc trẻ em;
d) Trẻ em đang được chăm sóc thay thế có hành vi cố ý xâm phạm nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cá nhân, thành viên gia đình nhận chăm sóc thay thế;
đ) Trẻ em trở về đoàn tụ gia đình khi gia đình bảo đảm an toàn, có đủ điều kiện thực hiện quyền của trẻ em”
Căn cứ, quy định trên, trường hợp này chị Oanh có thể chấm dứt việc chăm sóc thay thế đối với bé Gạo và giao bé trở về đoàn tụ với gia đình (chị Hường là mẹ đẻ).
Tình huống 05: Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
Một hôm, Nga (15 tuổi) bị các bạn của mình trêu trọc là “béo, lùn, mũi tẹt, da đen”, anh Hoàng là hàng xóm lúc đó thấy cảnh này thú vị nên có quay lại toàn bộ sự việc và đăng lên mạng xã hội facebook cá nhân để câu view, câu like. Sau đó, đoạn video được nhiều người chia sẻ, bình luận khiến em Nga mặc cảm, không dám ra ngoài và đến trường. Hỏi, việc anh Hoàng đăng tải video của em Nga lên mạng xã hội có phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không?
- Khoản 11 Điều 6 Luật Trẻ em quy định một trong các hành vi bị nghiêm cấm là: " Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em."
- Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền hình ảnh của cá nhân, như sau:
“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
- Điều 54 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: " Cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ trẻ em khi tham gia môi trường mạng dưới mọi hình thức,…."
Trong tình huống trên, anh Hoàng đã quay và đăng tải hình ảnh của em Nga lên mạng xã hội mà không có sự đồng ý của em Nga và cha mẹ em. Nội dung video ghi lại thời điểm em Nga bị trêu chọc, khiến nhiều người bình luận, chia sẻ, ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ em. Do đó, việc anh Hoàng đăng tải video của em Nga lên mạng xã hội là không phù hợp với quy định của pháp luật, xâm phạm quyền đối với hình ảnh, quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Anh Hoàng phải gỡ bỏ video và có trách nhiệm khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra./.
Đang Online: 25
Tổng lượng truy cập: