1. Tình huống 01: Bổn phận của trẻ em đối với gia đình
Em A, 14 tuổi, là học sinh trung học cơ sở trường G. Thời gian gần đây, A thường xuyên bỏ bê việc học, không giúp đỡ gia đình dù cha mẹ bận rộn. Khi ông bà hoặc cha mẹ nhắc nhở, A có thái độ cáu gắt, nói năng thiếu lễ phép, không lắng nghe ý kiến của người lớn. A cũng ít trò chuyện, chia sẻ với cha mẹ về việc học tập và các vấn đề trong cuộc sống của mình.
Thấy vậy, mẹ của A cho rằng trẻ em có quyền được gia đình chăm sóc, giáo dục nên A không có trách nhiệm, bổn phận gì đối với gia đình. Tuy nhiên, bố của A cho rằng pháp luật cũng quy định trẻ em có những trách nhiệm, bổn phận nhất định đối với gia đình.
Hỏi: Trong tình huống trên, ý kiến mẹ của A hay ý kiến bố của A là đúng? Vì sao?
Trả lời:
Ý kiến bố của A là đúng.
Tại Điều 37 Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 28/2018/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 81/2025/QH15) quy định về bổn phận của trẻ em đối với gia đình, như sau:
“Điều 37. Bổn phận của trẻ em đối với gia đình
1. Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ.
2. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.”.
Theo đó, bên cạnh việc được pháp luật bảo đảm các quyền của trẻ em như quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu… pháp luật cũng quy định trẻ em có những bổn phận đối với gia đình.
2. Tình huống 02: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng độ tuổi
Trung tâm bảo trợ xã hội M.A đang nuôi dưỡng 30 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, độ tuổi từ 3 đến 16 tuổi. Mặc dù trẻ ở các độ tuổi khác nhau có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, Trung tâm vẫn áp dụng chung một khẩu phần ăn cho tất cả trẻ, chủ yếu gồm cơm, rau và lượng ít thịt, cá; không bổ sung sữa, trái cây và các thực phẩm cần thiết khác cho sự phát triển của trẻ. Trong quá trình chăm sóc, Trung tâm không đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ, không điều chỉnh khẩu phần ăn đối với trẻ đang trong độ tuổi phát triển nhanh hoặc trẻ có nhu cầu dinh dưỡng đặc thù.
Ngày 01/6/2026, trong quá trình kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện nhiều trẻ tại Trung tâm bảo trợ xã hội M.A bị suy dinh dưỡng, thấp còi và chậm phát triển thể chất. Nguyên nhân được xác định là do Trung tâm không xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp với từng độ tuổi của trẻ trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng.
Hỏi: Trong tình huống trên, hành vi của Trung tâm bảo trợ xã hội M.A có vi phạm quy định về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em hay không? Nếu có, đó là hành vi vi phạm nào và mức xử phạt như thế nào?
Hành vi của Trung tâm bảo trợ xã hội M.A có vi phạm quy định về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em. Đó là hành vi vi phạm hành chính về không thực hiện trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng độ tuổi.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, như sau:
“Điều 26. Vi phạm quy định về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không thực hiện trách nhiệm bảo đảm chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng độ tuổi;”.
Theo quy định nêu trên, mức phạt tiền đối với cá nhân là từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Do Trung tâm bảo trợ xã hội M.A là tổ chức, mức phạt tiền đối với tổ chức gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân, do đó, mức phạt tiền đối với Trung tâm bảo trợ xã hội M.A là từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
3. Tình huống số 03: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi áp dụng phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em
Tại thôn X, xã Y vẫn duy trì phong tục kiêng đưa trẻ nhỏ đi khám bệnh tại cơ sở y tế khi bị sốt cao, thay vào đó gia đình thường mời thầy cúng đến làm lễ và cho trẻ uống nước lá theo kinh nghiệm dân gian.
Tháng 6/2026, cháu A (7 tuổi) bị sốt cao liên tục trong nhiều ngày, có biểu hiện co giật và mệt lả. Mặc dù cán bộ y tế thôn nhiều lần khuyến cáo đưa cháu đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng chị H (mẹ của cháu A) vẫn thực hiện theo phong tục địa phương, không đưa cháu đi điều trị. Sau đó, tình trạng sức khỏe của cháu A trở nên nghiêm trọng và phải nhập viện cấp cứu.
Hỏi: Hành vi của chị H không đưa cháu A đi điều trị mà áp dụng phong tục địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của cháu A có vi phạm hay không? Nếu có, đó là hành vi vi phạm nào và mức phạt như thế nào?
Hành vi của chị H không đưa cháu A đi điều trị mà áp dụng phong tục địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của cháu A là có vi phạm quy định của pháp luật. Đó là hành vi vi phạm hành chính về áp dụng phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 26 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, như sau:
... 2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
... c) Áp dụng phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em;”.
Theo đó, mức phạt tiền đối với hành vi áp dụng phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em của cá nhân là từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
4. Tình huống số 04: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở việc đi học của trẻ em
Gia đình em M có hoàn cảnh khó khăn. Sau khi học hết lớp 7, ông Đ (bố của M) cho rằng con gái không cần học nhiều nên yêu cầu M nghỉ học ở nhà phụ giúp việc gia đình và đi làm thuê kiếm thêm thu nhập. M nhiều lần bày tỏ mong muốn được tiếp tục đến trường nhưng ông Đ không đồng ý, giữ giấy tờ học tập, giấu sách vở, đồ dùng học tập của M và không cho M đến trường làm thủ tục nhập học năm học mới.
Biết sự việc, cô giáo chủ nhiệm của M đã đến vận động gia đình tạo điều kiện cho M tiếp tục đi học. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng việc cho con đi học hay không là quyền quyết định của gia đình nên không có gì vi phạm pháp luật.
Hỏi: Hành vi của ông Đ cản trở việc đi học của M như giữ giấy tờ học tập, giấu sách vở, đồ dùng học tập nêu trên có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Hành vi của ông Đ là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, như sau:
“Điều 27. Vi phạm quy định về quyền được giáo dục của trẻ em
... 2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cản trở việc đi học của trẻ em.”
Theo quy định nêu trên, hành vi cản trở việc đi học của trẻ em sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
5. Tình huống số 05: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em
Ông K là chủ một cửa hàng tạp hóa gần trường trung học cơ sở X. Mặc dù đã được nhà trường và chính quyền địa phương tuyên truyền về việc không bán các sản phẩm có hại cho trẻ em, ông K vẫn nhập về thuốc lá điện tử và một số loại nước uống tăng lực, đồ ăn (như chân gà cay, xúc xích...) để bán kiếm lời.
Một buổi chiều tháng 5/2026, nhóm học sinh lớp 7 trường trung học cơ sở X vào cửa hàng của ông K hỏi mua thuốc lá điện tử mua và đồ ăn. Sau đó, một số học sinh sử dụng các sản phẩm trên có biểu hiện đau đầu, buồn nôn, phải nghỉ học và được gia đình đưa đi khám.
Khi cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện thuốc lá điện tử, nước uống và đồ ăn ông K bán đều không có nguồn gốc, không có nhãn mác, một số thực phẩm đã hết hạn sử dụng nhưng ông K vẫn bán.
Hỏi: Hành vi bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em (không có nguồn gốc, không có nhãn mác, hết hạn sử dụng) của ông K có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Hành vi bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em (không có nguồn gốc, không có nhãn mác, hết hạn sử dụng) của ông K là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm b Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, như sau:
“Điều 30. Vi phạm quy định về cấm bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em; vi phạm quy định về cung cấp sản phẩm, dịch vụ an toàn, thân thiện với trẻ em mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
... b) Bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em;”
Theo quy định nêu trên, hành vi bán chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng./.
Đang Online: 25
Tổng lượng truy cập: